Tiếng ViệtEnglish
Loãng xương
Gãy cổ xương đùi

Gãy cỔ xương đùi (Hip Fractures)

13 07-25 hip

Cổ xương đùi


Gãy cổ xương đùi là một căn bệnh điển hình khi dân số già đi. Mặc dù phần lớn các bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi cuối cùng họ cũng hồi phục hầu hết các chức năng hoạt động, nhưng khi một bệnh nhân lớn tuổi bị gãy cổ xương đùi cũng có nghĩa là họ đã vĩnh viễn mất độc lập. Hiện nay, điều trị ngoại khoa giúp các bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi có thể hoạt động lại bình thường, Tuy nhiên, gãy cổ xương đùi vẫn là một căn bệnh nghiêm trọng có thể dẫn đến những biến chứng đe dọa đến tính mạng.
Hầu hết gãy cổ xương đùi gây đau ở vùng cổ xương đùi và làm cho chân có cổ xương bị gãy không cử động được. Ở một số bệnh nhân, cổ xương đùi và chân bị lật ra phía ngoài ở một tư thế bất thường, hoặc phần chân phía dưới cổ xương đùi bị gãy có thể ngắn hơn chân còn lại. Gãy cổ xương đùi có thể được chẩn đoán bằng cách chụp X-quang, chụp cắt lớp CT hoặc chụp MRI. Hầu hết gãy cổ xương đùi xảy ra ở phần trên của cổ xương đùi (h 1), ngay dưới phần đầu của cổ xương đùi là đầu xương có dạng hình tròn như quả bóng, hay ở vùng mấu ngay phía trên xương đùi (h 2). Khi cổ xương đùi bị gãy, xương có thể bị nứt, vỡ, có thể còn nằm yên tại chỗ không bị lệch đi (h 3), hoặc phần đầu xương gãy bị lệch khỏi vị trí (h 4). Trong hầu hết các ca gãy cổ xương đùi, phẫu thuật là cách để chỉnh xương gãy. Phần xương bị gãy có thể nối lại với nhau bằng ốc vít hay bằng một miếng kim loại (h 5), hoặc thay thế phần xương bị gãy bằng một mảnh giả bằng kim loại, hoặc thay thế phần trên của cổ xương đùi bằng một khớp nhân tạo (thay hoàn toàn cổ xương đùi) (h 6)

13 07-25 hip 1    13 07-25 hip 2

(h 1) gãy phần trên cổ xương đùi                                                 (h 2) gãy phần mấu trên đầu xương đùi

 

13 07-25 hip 3                                          13 07-25 hip 4

(h 3) xương gãy nằm yên tại chỗ (I và II)                                    (h 4) xương gãy bị lệch khỏi vị trí (III và IV)

 

13 07-25 hip 5

(h 5) cố định xương gãy bằng kim loại

 

13 07-25 hip 6

(h 6) thay thế cổ xương gãy hoàn toàn bằng khớp giả (prosthesis).


Hầu như luôn luôn tránh được gãy cổ xương đùi nếu người lớn tuổi biết cách giữ xương chắc khỏe và áp dụng các biện pháp phòng ngừa té ngã thông qua môt số quy tắc đơn giản.
Vấn đề đang gia tăng ở người cao tuổi
Gãy cổ xương đùi là bệnh khá phổ biến ở những người lớn tuổi, và khi dân số Hoa Kỳ già đi, người ta dự đoán rằng căn bệnh này có thể trở thành một vấn đề lớn hơn trong những năm săp tới. 90% trong khoảng 300,000 bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi ở Hoa Kỳ hàng năm ở độ tuổi trên 60, và chi phí điều trị hàng năm cho các bệnh nhân này lên đến hàng tỷ đô la.
Các bệnh nhân có nguy cơ
Nguyên nhân chủ yếu của gãy cổ xưng đùi là do chấn thương cổ xương đùi. Đối với người trẻ tuổi, gãy cổ xương đùi có thể do tai nạn giao thông hoặc chấn thương thể thao. Đối với người lớn tuổi, nguyên nhân chính là do té ngã. Nhưng nếu xương giòn, cổ xương đùi có thể bị gãy mà không hề có chấn thương nào trong quá trình hoạt động hàng ngày. Do đó, một trong những nguy cơ lớn nhất gây gãy cổ xương đùi là do tuổi già, tuổi càng cao thì cơ xương càng yếu, thăng bằng kém, và mật độ xương suy yếu (loãng xương). Do phụ nữ có nguy cơ bị loãng xương cao hơn khi về già, nên có nguy cơ bị gãy cổ xương đùi cao gấp 2 đến 3 lần so với đàn ông. Có một số thuốc như corticosteroid dùng dài hạn có thể gây yếu xương; các loại thuốc khác như thuốc an thần hoặc thuốc hạ huyết áp gây rối loạn cân bằng. Bệnh nhân mắc các chứng bệnh như viêm khớp, bệnh Parkinson, bệnh sa sút trí tuệ thì dễ bị té ngã và tăng nguy cơ gãy cổ xương đùi
Các dấu hiệu và triệu chứng
Triệu chứng phổ biến nhất của gãy cổ xương đùi là đau vùng cổ xương đùi, gây khó khăn khi cử đông cổ xương đùi bị gãy. Có thể có những dấu hiệu của chấn thương như bị sưng hoặc bầm tím quanh vùng cổ xương đùi. Có thể gây xuất huyết ở các mô nếu các xương gãy làm tổn thương mạch máu bất kỳ. Chân của bên bị gãy cổ xương đùi có thể ngắn hơn chân còn lại, hoặc có thể bị xoay ra ngoài thay vì duỗi thẳng ra. Trong một vài trường hợp, có thể có những cơn đau nhẹ như vậy do bị gãy cổ xương đùi nhưng bệnh nhân lại không hề nhận ra mà chỉ có cảm giác đau ở vùng hông hoặc vùng xương chậu. Có thể chụp X-quang, chụp cắt lớp CT, hoặc chụp MRI để chẩn đoán kết hợp với kiểm tra sức khỏe và xem xét tiền sử bệnh toàn diện.
Điều tr
Hầu hết các ca gãy cổ xương đùi đều được điều trị bằng phẫu thuật. Đối với những bệnh nhân không phải cấp cứu hay không phải là đối tượng thích hợp để được phẫu thuật thi có thể điều trị bằng cách kéo giãn các xương bị gãy nếu thích hợp. Nếu tiến hành phẫu thuật, cần có giai đoạn phục hồi chức năng bằng khung đi bộ hoặc các trợ giúp tương tự. Qúa trình p hục hồi cổ xương đùi bị gãy diễn ra khá chậm, có thể mất nhiều tháng và phụ thuộc vào dạng gãy xương và sức khỏe của bệnh nhân trước khi chấn thương. Nhiều bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi cần tạm thời ở lại trung tâm phục hồi chức năng hay nhà điều dưỡng trước khi họ có thể quay trỏ lại hoạt động bình thường. Gãy cổ xương đùi là một bênh nghiêm trọng và có thể gây ra các biến chứng như rối loạn, trầm cảm, tăng/giảm huyết áp, mất cân bằng điện giải, nhiễm trùng, huyết khối, và nghẽn mạch phổi. Cần chú ý các tác phụ từ thuốc giảm đau gây ra như buồn ngủ, buồn nôn và táo bón, vì đối với người lốn tuổi nó có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng.
Phòng ngừa
Giữ xương chắc khỏe là cách để phòng tránh gãy cổ xương đùi. Phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh nên kiểm tra mật độ xương để xác định nếu họ cần điều trị để đẩy lùi hay phòng ngừa loãng xương. Bổ sung canxi và vitamin D, tập thể dục và sử dụng thuốc giúp tái tạo cấu trúc xương yếu (bisphosphonates (alendronate), raloxifene, và calcitonin) là những bước hiệu quả để phòng ngừa gãy cổ xương đùi trong tương lai đối với cả đàn ông và phụ nữ. Tránh bị té ngã cũng là điều quan trọng vì ngã là nguyên nhân chủ yếu gây gãy cổ xương đùi. Cần loại bỏ các tấm thảm (có thể gây trượt), gắn tay vịn tại các bậc lên xuống quanh nhà, và duy trì đèn sáng (đặc biệt vào buổi tối) là những cách đơn giản để tránh bị té ngã. Một số bệnh nhân được tư vấn mang dụng cụ bảo vệ cổ xương đùi cả ngày, đây là những miếng đệm mềm được mặc dưới lớp quần áo để bảo vệ tránh bị gãy xương về sau.
(Nguồn http://www.uspharmacist.com/content/ta/245/c/11151/)

 

 

 

 

LOÃNG XƯƠNG Ở EU

LOÃNG XƯƠNG Ở EU

Loãng xương tiêu tốn hàng năm 37tỉ Euro tại 27 nước thành viên EU-27

13 07-19 eu 27

Ghi chú: các quốc gia thành viên EU-27: 1-Austria (1995), 2-Belgium (1952), 3-Bulgaria (2007), 4-Cyprus (2004), 5-Czech Republic (2004), 6-Denmark (1973), 7-Estonia (2004), 8-Finland (1995), 9-France (1952), 10-Germany (1952), 11-Greece (1981), 12-Hungary (2004), 13-Ireland (1973) 14-Italy (1952), 15-Latvia (2004), 16-Lithuania (2004), 17-Luxembourg (1952), 18-Malta (2004), 19-Netherlands (1952), 20-Poland (2004), 21-Portugal (1986), 22-Romania (2007), 23-Slovakia (2004), 24-Slovenia (2004), 25-Spain (1986), 26-Sweden (1995), 27-United Kingdom (1973) (số trong ngoặc là năm gia nhập)

 

1. 22 triệu phụ nữ (4,4%) và 5.5 triệu đàn ông (1,1%) thuộc EU27 (500 triệu dân / 2010) bị loãng xương;
2. 43,000 ca tử vong từ gãy xương do loãng xương
3. 3.5 triệu ca gãy xương mới hàng năm, chia ra 610,000 ca gãy cổ xương đùi, 520,000 ca gãy đốt xương sống , 560,000 ca gãy xương cẳng tay và 1,800,000 ca gãy xương khác;
4. Chi phí điều trị gãy xương do loãng xương tiêu tốn hàng năm € 37 tỉ (0,7%); (EU-27 GDP 2010 là € 12.260 tỉ)
5. Chi phí điều trị các ca gãy xương mới chiếm 66%, chăm sóc gãy xương dài hạn 29% và cho phòng ngừa 5%;
6. Chi phí điều trị gãy xương tăng 25% trong khoảng từ 2010 đến 2025;
7. Phần lớn những người đang chịu đựng gãy xương do loãng xương hay nguy cơ gãy xương cao, lại không được chữa trị.
8. Mặc dầu có sự gia tăng số lượng bệnh nhân cần chữa, nhưng thực tế số người được chữa trị lại đang giảm xuống.

LOÃNG XƯƠNG Ở HOA KỲ

LOÃNG XƯƠNG Ở HOA KỲ

Xương chắc khỏe bắt đầu từ thời thơ ấu. Bổ sung Canxi, Vitamin D và các hoạt động thể chất chịu lực giúp định hình khối xương. Các hoạt động như chạy, nhảy, leo cầu thang, tập tạ có thể đẩy mạnh quá trình phát triển của xương, chơi thể thao đồng đội là hoạt động thể lực tốt nhất. Ít hoạt động thể chất dẫn đến mất dần khối xương, nhất là trong thời gian dài bất động hoặc ít vận động. Đỉnh điểm phát triển xương xảy ra từ 8-19 tuổi, và khi kết thúc tuổi dậy thì (khoảng 17 tuổi), 90% khối xương trưởng thành của thanh thiếu niên được định hình, và các xương tiếp tục tăng mật độ xương cho tới tuổi 30.

Loãng xương: Khoảng 40 triệu người mắc, hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương do khối xương thấp. Bệnh loãng xương phát triển khi quá trình hủy xương xảy ra quá nhanh so với quá trình tạo xương thay thế. Những phụ nữ không đạt đỉnh cao phát triển xương thời thành niên (20-30 tuổi) dễ dẫn đến loãng xương. Trong những năm đầu ngay sau mãn kinh, phụ nữ bị mất đến 20% khối xương và tiếp tục mất xương trong những năm sau đó.
Mật độ xương: Theo một báo cáo nghiên cứu sức khỏe và dinh dưỡng, không phân biệt tuổi tác hay chủng tộc, phụ nữ có mật độ xương thấp hơn đàn ông. Người Mỹ da đen ở độ tuổi ≥50, 20–49 và 8-19 tuổi, phụ nữ có mật độ xương thấp hơn đàn ông tương ứng với 15.4%, 9.7% và 6.4%. Phụ nữ Mỹ-gốc Mexico ở độ tuổi 50 trở lên có mật độ xương ít khác biệt nhất so với đàn ông. Người Mỹ nói chung sau tuổi dậy thì, mật độ xương tăng 15% ở nam, và 12% ở nữ. Khi ngoài 50 tuổi, mật độ xương ở nữ giảm 12%, so với nam chỉ giảm 6.1%.
Gãy xương do loãng xương: 28 triệu người Mỹ bị loãng xương dẫn tới 1.5 triệu ca gãy xương mỗi năm. Thông thường người dễ bị gãy cổ xương đùi có chế độ dinh dưỡng kém, bị suy giảm về thể chất và tinh thần, có tiền sử gia đình có người lớn tuổi bị gãy xương. Trong cuộc đời, phụ nữ mất từ 30-50% mật độ xương, và đàn ông mất từ 20-30%. Phụ nữ mãn kinh bị mất lượng canxi trong xương với tốc độ nhanh. Một người già bị gãy cổ xương đùi có thể tử vong trong vòng 3 tháng hoặc không thì sưc khỏe xuống dốc thảm hại. Một trong 5 bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi phải vào nhà điều dưỡng trong vòng 1 năm, số khác trở nên cô lập và trầm cảm hoặc hạn chế đi lại vì sợ bị ngã. Chi phí điều trị gãy xương do loãng xương hàng năm là 18 tỉ đô la.

13 07-19 loang xuong hoa ky


Trong 353.000 ca gãy xương đùi hàng năm tại Hoa Kỳ, có 90% là do té ngã. Người ở tuổi 50 trở lên bị ngã, gãy cổ xương đùi ở phụ nữ 2 đến 3 lần cao hơn đàn ông. Năm 1996, hơn 323.000 ca nhập viện do gãy cổ xương đùi, tức khoảng 850 ca gãy xương mỗi ngày, và hầu hết xảy ra ở những phụ nữ lớn tuổi. Phụ nữ có chiều cao từ 1,73m trở lên có nguy cơ bị gãy cổ xương đùi cao gấp 2 lần hơn phụ nữ có chiều cao dưới 1,57m. Phụ nữ bị từng bị gãy tay tăng nguy cơ bị gãy cổ xương đùi. Tương lai nạn dịch gãy cổ xương đùi xảy ra khi dân số già đi, và dự đoán khoảng năm 2050, có thể lên đến 650.000 ca gãy cổ xương đùi hàng năm, tức 1.800ca/ngày, gấp đôi con số hiện nay.
Hậu quả: Hầu hết các bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi đều yêu cầu sự hỗ trợ từ phía gia đình hoặc được chăm sóc tại nhà. Tất cả các bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi cần được giúp đỡ tập luyện đi lại trong vài tháng, khoảng phân nửa cần một cây gậy hoặc khung đi bộ vĩnh viễn. Tổng chi phí hàng năm kể cả khoản thu nhập bị mất đi do bị gãy cổ xương đùi là 12.6 tỷ đô la (37,000 đô la/ca). Khoảng 25% bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi hồi phục hoàn toàn, 40% phải ở nhà điều dưỡng, và 51% ở độ tuổi 65 trở lên được đưa vào cơ sở chăm sóc y tế dài hạn.
Lời bình: Trách nhiệm của cán bộ y tế nói chung và dược sĩ tại nhà thuốc nói riêng là cung cấp các hướng dẫn điều trị và lối sống cho những cá nhân dễ bị nguy cơ gãy xương. Cần khuyến khích thực hiện kiểm tra mật độ xương ở phụ nữ 65 tuổi trở lên và nam giới đang áp dụng các liệu pháp có thể gây mất xương. 50% gãy xương là do té ngã do đó nếu một bệnh nhân có mật độ xương thấp, cán bộ y tế nên tư vấn cho họ những biện pháp an toàn phòng ngừa té ngã.
{Theo: Somnath Pal, BS (Pharm), MBA, PhD, Hip Fractures From Falls, US Pharm. 2011;36(1, và Somnath Pal, BS (Pharm), MBA, PhD, Bone Health in Adults, US Pharm. 2012;37(10):8.}

 



LOÃNG XƯƠNG QUANH THẾ GIỚI

ĐÔI ĐIỀU VỀ LOÃNG XƯƠNG – LOÃNG XƯƠNG QUANH THẾ GIỐI

 

13 07-19 loang xuong theo tuoi

1- Hầu hết giới nữ quan tâm chăm sóc da từ khi còn trẻ, một ít người trung niện để ý tình trạng đại tràng, nhưng có những ai có biết rằng loãng xương sẽ tác động đến chất lượng sống?
2-Khối xương đạt định cao ở tuổi 25, nhưng để đạt được đỉnh cao đó, chế độ dinh dưỡng đầy đủ Ca, Vit D và vận động thích hợp cần được thực hiện trong cả thời kỳ thơ ấu trước đó. Nếu không cung cấp đủ dinh dưỡng, mật độ xương sẽ không đạt đỉnh cao, và sự cung cấp Ca sau tuổi 25 chỉ bù đắp cho khối xương bị mất đi.
3-Nội tiết tố estrogen ở nữ và testosterone (androgen) ở nam giữ vai trò tạo xương. Phụ nữ mãn kinh, estrogen bị giảm đột ngột làm xảy ra mất xương tức thì, khoảng 20%, ngay các năm sau mãn kinh.
4-Một số chứng bệnh có thể chẩn đoán bằng X quang hay chụp CT, nhưng với loãng xương thì không. Loãng xương được chẩn đoán bằng máy đo mật độ xương (bone densitometry). Đo mật độ xương là cách tốt nhất giúp xác định mức độ nguy cơ loãng xương. BS cơ xương khớp và BS sản-phụ khoa tại cơ sở y tế có máy đo mật độ xương có thể giúp bạn.
5-Một trong các cách phòng ngừa loãng xương là dùng Ca. Nhu cầu Ca từ 9-18 tuổi là 1.300mg/ngày, từ 19-50 tuổi là 1.000mg/ngày, sau 50 tuổi là 1.200mg/ngày. Cá và sữa là nguồn cung cấp Ca.
6-Các sản phẩm từ đậu nành giàu isoflavones, một chất gần giống nội tiết tố nữ estrogen, nên rất tốt cho phụ nữ mãn kinh trong phòng ngừa loãng xương.
7-Cà chua nấu chín, đặc biệt giảm nguy cơ loãng xương. Thịt cua (cua đồng) là nguồn Ca dễ hấp thu rất tốt cho cơ thể. Món bún riêu cua (thịt cua đồng xay nhuyễn nấu với cà chua) là món ăn bổ xương mà chúng ta thừa hưởng từ ông bà truyền lại
8-Để phòng ngừa loãng xương và điều trị loãng xương một khi đã mắc là dùng thuốc chống hủy xương (các thuốc bisphosphonates như Alendonate) là một trong các liệu pháp hữu hiệu giúp chống mất xương, và là lựa chọn đầy tay của BS trong phòng ngừa và điều trị loãng xương.

TRÊN THẾ GIỚI

1. Hàng năm trên thế giới, bệnh loãng xương gây ra 8,9 triệu ca gãy xương, trung bình mỗi 3 giây có 1 ca gãy xương
2. Bệnh loãng xương ảnh hưởng 200 triệu phụ nữ: 1/10 phụ nữ tuối 60, 1/5 phụ nữ tuổi 70, 2/5 tuổi 80 và 2/3 tuổi 90.
3. Có trên 9 triệu ca gãy xương mới hàng năm, trong đó 1,6 triệu ca gãy cổ xương đùi, 1,7 ca gãy xương cẳng tay và 1,4 triệu ca gãy xương đốt sống. Một nữa ca gãy xương thuộc các nước Âu-Mỹ, một nữa còn lại thuộc các quốc gia tây Thái bình dương và Nam và Đông Nam Á
4. Cứ 1 trong 3 phụ nữ trên 50 bị gãy xương do loãng xương và đối với nam là 1 trong 5
5. 80%, 75%, 70% và 58% gãy xương cẳng tay, gãy xương cánh tay, gãy cổ xương đùi và gãy đốt xương sống xảy ra ở phụ nữ
6. 75% ca gãy cổ xương đùi, đốt xương sống, xương cổ tay xảy ra ở bệnh nhân trên 65 tuổi
7. Khoảng năm 2050, gãy cổ xương đùi dự báo sẽ tăng 310% đối với nam và 240% đối với nữ.
8. Kết hợp các nguy cơ gãy cổ xương đùi, gãy xương cẳng tay và gãy đốt xương sống tiêu tốn chi phí y tế đến 40%, tương đương vơí nguy cơ do bệnh tim mạch
9. Bệnh loãng xương gây thiệt hại khổng lồ cho cá nhân và cả nền kinh tế. Riêng ở Châu Âu, bệnh loãng xương gây tàn phế lớn hơn cả do ung thư hay các bệnh mãn tính không lây lan như suyển, thấp khớp và cao huyết áp gây ra.
10. Ở phụ nữ trên 45 tuổi, bệnh loãng xương làm họ phải ở nằm bệnh viện lâu hơn so với khi họ bị các bệnh khác như tiểu đường, nhồi máu cơ tim, ung thư vú.
11. Phần lớn phụ nữ chịu đựng gãy xương đều không được chẩn đoán loãng xương và điều trị
12. Do đa phần phụ nữ không biết nguy cơ loãng xương sau mãn kinh, không được tiếp cận cán bộ y tế về căn bệnh thầm lặng này, cũng như hạn chế tiếp cận các cơ sở chẩn đoán và điều rị loãng xương khiến cho bệnh này không được hẩn đoán và điều trị kịp lúc.

Ở CHÂU Á

Dự báo có khoảng 50% ca gãy cổ xương đùi do loãng xương sẽ xảy ra tại Châu Á vào khoảng 2050
1. Bệnh loãng xương rất hạn chế được chẩn đoán và điều trị do phần lớn dân cư sống xa thành thị, và khi bị gãy cổ xương đùi, họ đa phần điều trị bằng phương pháp dân gian thay vì đến bệnh viện.
2. Kỹ thuật chẩn đoán mật độ xương DXA chưa tiếp cận nhiều đến các quốc gia đang phát triển, đặc biệt ở vùng nông thôn. Thí dụ, năm 2008, ở Indonesia chỉ có 34 máy DXA, phẩn nửa số này ở Jakarta, với dân số 237 triệu (0.001 cho 10,000 dân). Tại các nước Á châu khác, con số này dước mức khuyến cáo của Châu Âu, 0.11 cho 10,000 dân.
3. Hầu hết các nước Á châu dưới mức khuyến cáo của FAO/WHO về nhu cầu Canxi mỗi ngày từ 1000 - 1300 mg/ngày. Lượng Canxi đưa vào cơ thể mỗi ngày của dân Châu Á chỉ khoảng 450 mg/ngày.
Nguồn: Eurekalert và International Oeteoporosis Foundation

 

 

LOÃNG XƯƠNG - NHÌN TỪ NHÀ NGOẠI KHOA

LOÃNG XƯƠNG & HẬU QUẢ - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGOẠI KHOA

 

ThS BS Tăng Hà Nam Anh

 

Trưởng Khoa CTCH BV Nguyễn Tri Phương

 

Phó GĐ Trung tâm Phẩu thuật thực nghiệm-ĐHYD TP HCM

 

Trích dẫn bài nói tại buổi hội thảo “SaVipharm – Những bước đột phá mới” (khách sạn Equatorial, TP. Hồ Chí Minh, ngày 02.6.2013)

Gãy xương – các con số:
Toàn thế giới hiện có trên 200 triệu người bị loãng xương
Tại châu Âu: mỗi 30 giây có 4 ca gãy xương; mỗi năm có 4 triệu ca gãy xương mới, chi phí điều trị lên đến 37 tỉ Euro.
Tại VN năm 2010: có 2,8 triệu người bị loãng xương, 170.000 người bị gãy xương, 25.663 ngườì bị gãy cổ xương đùi. Dự báo tới năm 2030: các số liệu này đều tăng 172 – 174 %, tức có khoảng 4,5 triệu người bị loãng xương, 262.650 người bị gãy xương, 40.700 người bị gãy cổ xương đùi.
Tại sao quan tâm đến loãng xương
Nguy cơ gãy xương và "mật độ xương": tương quan theo cấp số lũy thừa giữa sự giảm"mật độ xương" và tăng cao tỉ lệ gãy xương
Nguy cơ gãy xương và tuổi: 3 loại gãy xương phổ biến do loãng xương là: gãy cổ xương đùi (hip fracture), gãy xương cột sống (vertebral fracture), gãy xương tay (Colles' fracture) tăng dần theo tuổi, từ sau khoảng tuổi 40 (xem biểu đồ)

13 06-11 namanh 01

Gãy xương: biến cố nghiêm trọng
Bởi vì gãy xuơng sẽ gây ra các điều sau: a-tăng nguy cơ tử vong, b-nguy cơ gãy xương lần thứ hai, c-giảm chất lượng cuộc sống: đi lại khó khăn, d-chi phí điều trị cao
Bốn yếu tố quan trọng nhất có thể dẫn tới gãy xương là: cao tuổi, tiền sử gãy xương, té ngã, mật độ xương thấp (hoặc trọng lượng thấp).
Nếu có tiền sử gãy xương: sẽ làm tăng nguy cơ gãy xương lên 1.5–9.5 lần; nguy cơ này tùy thuộc vào: số lần gãy xương trước đây, vùng xương bị gãy, tuổi, té ngã.

13 06-11 namanh 02

Biến chứng: loét do nằm lâu ở bệnh nhân bị gãy xương  cổ xương đùi.

Phòng ngừa nguy cơ loãng xương.
Đo mật độ xương là "tiêu chuẩn vàng" để phát hiện loãng xương, từ đó có biện pháp điều trị loãng xương và phòng ngừa gãy xương. Đo mật độ xương là một phương pháp an toàn do phóng xạ rất thấp, thao tác đo nhanh và thoải mái, dễ sử dụng (có thể mặc đồ) và không xâm lấn.
Dưới đây là tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo Tổ chức y tế thế giới (WHO):
CHẨN ĐOÁN T-SCORE
   Bình thường T-CORE ³ -1SD
   Thíếu xương -2,5SD < T-SCORE < -1SD
   Loãng xương T-SCORE ≤ -2,5SD
   Loãng xương nặng T-SCORE ≤ -2,5SD + ít nhất 1 lần gãy xương do loãng xương
Những yếu tố can thiệp điều trị loãng xương cho bệnh nhân là: người có tuổi trên 65, T- score -2.5, gãy xương hông, gãy xương do té ngã nhiều lần, gãy xương đốt sống, tiền sử cha mẹ gãy cổ xương đùi, tiền sử té ngã.
Phụ nữ Việt Nam có cần phải điều trị loãng xương sau khi đã bị gãy xương hay không?
Tần xuất gãy xương cột sống hình thái học, ở phụ nữ Việt nam loãng xương sau mãn kinh tại TP Hồ chí Minh là 23% (nghiên cứu năm 2009), dưới 20% ở độ tuổi 50-69, và 40% ở độ tuổi trên 70. Ngoài ra, gãy cổ xương đùi được dự báo gia tăng.
Loãng xương là bệnh có thể phòng ngừa, bằng cách: cung cấp calcium và vitamin D theo nhu cầu, tập thể dục thường xuyên, giảm nguy cơ té ngã, giữ cân nặng hợp lý, ngưng hút thuốc, giảm rượu bia như hình sau đây:

13 06-11 namanh 03

 

Để điều trị loãng xương có thể dùng: thuốc chống hủy xương (anti-resorption) như Bisphosphonates, Calcitonine, các chất tương tự Estrogen; hoặc thuốc tăng tạo xương (bone-forming) như strontium..; hoặc các thuốc khác như Calcitriol..
Bisphosphonates (BPHs như Alendronate) là nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất trên thế giới và được khuyến cáo là thuốc đầu tay trong điều trị loãng xương. Hiệu quả của BPHs là nhờ có tác dụng hiệp lực của Vit D và Calcium được uống bổ sung. Vitamin D, 700-800 IU một ngày làm giảm 26% nguy cơ gãy xương chậu và 23% nguy cơ gãy xương ngoài xương sống ở người già; Calcium, 1000 mg/ngày làm giảm 24% nguy cơ gãy xương chậu. Hiện nay, Alendronate có dữ liệu chứng minh tính an toàn và hiệu quả với thời gian theo dõi lên đến 10 năm (FLEX study_JAMA, 2006, Henry G. Bone. NEJM 2004). Hiệu quả trong phòng ngừa gãy xương do loãng xương và giá thành hợp lí, Alendronate chính là lựa chọn đầu tay (first line therapy) trong hầu hết các trường hợp. Với bệnh nhân không dung nạp hoặc có chống chỉ định với Alendronate, nên xem xét sử dụng các loại BPHs khác hoặc Strontium ranelate hoặc Raloxifen.

Tóm tắt:
 Loãng xương là một căn bệnh nguy hiểm, cần được phòng ngừa, cần được chẩn đoán và điều trị sớm. Khi bệnh nhân đã bị gãy xương cần được điều trị để ngăn ngừa một gãy xương mới.
 Tăng nguy cơ tử vong sau gãy xương
 Yếu tố nguy cơ chính: cao tuổi, tiền sử gãy xương, mật độ xương thấp, té ngã
 Sử dụng thuốc (BPHs + Vit D, Canxi) khi loãng xương. Cần chú ý yếu tố loét thực quản trên các thuốc kinh điển
Dạng bào chế viên sủi (như Savi Osmax – alendronate dạng sủi) có thể giúp giảm nguy cơ loét thực quản, ít bất tiện cho bệnh nhân

13 06-05 loang xuong 4 osmax

Viên sủi SAVI OSMAX - dự phòng & điều trị loãng xương



Sản phẩm mới

  • Savi Gold forte
  • Tây Sa
  • Savi Osmax
  • Savi Alendronate forte
  • Savi Pamol extra

Google Translator

Tìm kiếm

Sản phẩm ưa chuộng

Liên kết website

Thống kê truy cập

Hiện có 78 khách
Lượt truy cập 3629081

Chia sẻ thông tin

Google Bookmarks Twitter Windows Live Facebook MySpace Yahoo! Bookmarks

Công ty cổ phần Dược phẩm SaVi - Lô Z.01-02-03a KCN trong KCX Tân Thuận, P. Tân Thuận Đông, Q.7, tp Hồ Chí Minh

Email:    svp@savipharm.vn,           Điện thoại:          028 3 7700144 - 143 - 142,           Fax:        028 3 7700 145

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: số 0303923529 do Sở Kế hoạch đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 03 tháng 08 năm 2005

 

 

 

 

 

..